I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất (PTSX) công nghiệp (IIP) tháng 7/2019 ước tăng 1,31% so với tháng trước và tăng 26,31% so với cùng kỳ. Dự tính 7 tháng/2019, IIP tiếp tục đà tăng trưởng cao, tăng 23,62% so với cùng kỳ (7 tháng/2017 tăng 20,63%; 7 tháng/2018 tăng 24,24%), trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là động lực chính thúc đẩy mức tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 25,38%, đóng góp 22,18 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,58%, đóng góp 1,23 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,63%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 7,74%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm.

Trong 51 nhóm ngành kinh tế cấp 4 có 30 ngành có chỉ số sản xuất tăng, trong đó: ngành sản xuất mô tơ, máy phát điện tiếp tục là ngành có mức tăng cao nhất, tăng 217,88%; tiếp theo ngành sản xuất thiết bị truyền thông tăng 106,13%; ngành sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép đứng thứ 3 với mức tăng 86,76%…
Có 21 ngành kinh tế cấp 4 giảm, trong đó: ngành sản xuất đồ chơi giảm 71,21%; sản xuất thuốc lá giảm 28,18%; sản xuất bia giảm 25,86%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng  giảm 30,57%;…

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp – IIP (%)

Ước tính tháng 7/2019 so với tháng trước

Ước tính tháng 7/2019 so với cùng kỳ

Cộng dồn 7 tháng 2019 so với cùng kỳ

Toàn ngành công nghiệp

101,31

126,31

123,62

Khai khoáng

  97,98

   94,41

   107,74

Công nghiệp chế biến, chế tạo

102,60

   125,95

   125,38

Sản xuất và phân phối điện

  88,33

   137,79

   108,58

Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

100,10

     95,77

    108,63

Tình hình sản xuất của một số doanh nghiệp có đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng toàn ngành công nghiệp thành phố trong tháng 7 và 7 tháng/2019:
Tổ hợp sản xuất ô tô và xe máy điện VinFast: sau khi chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/2019, sản lượng sản xuất sản phẩm ô tô của nhà máy trong tháng 7/2019 dự kiến đạt cao hơn tháng trước, tập trung chủ yếu ở các dòng xe cỡ nhỏ. Sản phẩm xe máy điện tháng 7/2019 ước đạt sản lượng khá hơn sau thời gian tiêu thụ chậm, tồn kho cao.
Chi nhánh công ty TNHH GE Hải Phòng với các đơn hàng dồi dào tiếp tục sản xuất khối lượng lớn máy phát điện tuabin gió và các linh kiện hệ thống điều khiển điện. Dự kiến tháng 7/2019 sản xuất và tiêu thụ giảm nhẹ so tháng trước nhưng vẫn cao hơn gần 1,5 lần so với cùng kỳ.
Ba doanh nghiệp thuộc tập đoàn LG trong 7 tháng/2019 sản lượng sản xuất tiếp tục ổn định, trong đó công ty TNHH LG Electronics từ tháng 7/2019 đã đưa 03 dây chuyền sản xuất điện thoại và 01 chuyền bản mạch được chuyển dịch từ Hàn Quốc sang nhà máy tại Hải Phòng vào sản xuất chính thức; công ty TNHH LG Display Hải Phòng dự kiến bổ sung sản xuất dòng sản phẩm màn hình oled tivi mới 77 inch.
Sản xuất xi măng 7 tháng/2019 duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, tăng 7,43% so với cùng kỳ, (7 tháng/2017 giảm 2,52%; 7 tháng/2018 giảm 8,64%), tiêu thụ cũng tăng 4,98% so cùng kỳ, đây là sự nỗ lực của các doanh nghiệp sản xuất xi măng trong đẩy mạnh tiêu thụ trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Sản xuất sắt thép 7 tháng/2019 trên địa bàn dự kiến tăng 4,22%, cao hơn mức tăng 1,83% so với cùng kỳ năm 2018, thị trường bất động sản ở Hải Phòng đang ở giai đoạn phát triển mạnh, nhiều dự án công trình hạ tầng, xây dựng được triển khai trong năm 2019, nhu cầu sắt thép tăng cao cũng là điều kiện để một số doanh nghiệp thép có thêm những đơn hàng mới, giúp sản xuất tăng trưởng.
Ngoài ra sản xuất công nghiệp thành phố trong 7 tháng/2019 còn có sự đóng góp các doanh nghiệp FDI như công ty TNHH Kyocera, TNHH Rorze Robotech, TNHH LS Vina , TNHH may Reginal tiếp tục đầu tư mở rộng, tăng công suất… các doanh nghiệp công nghiệp truyền thống trong nước như sản xuất sản phẩm từ plastic, sản xuất nước mắm, may mặc tích cực mở rộng thị trường, tìm kiếm bạn hàng, nâng cao chất lượng… đã đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng ngành như: sản xuất máy văn phòng tăng 18,03%; sản xuất dây và cáp điện tăng 19,79%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 7,98%; chế biến thủy sản tăng 14,17%, các ngành sử dụng nhiều lao động  như  may mặc tăng 15,4%…
Bên cạnh các ngành sản xuất tăng, sản xuất tháng 7 và 7 tháng/2019 có một số ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn giảm so với cùng kỳ hoặc có tốc độ tăng thấp so với cùng kỳ, cụ thể:
Ngành sản xuất phân bón dự kiến 7 tháng/2019 giảm 24,66% so với cùng kỳ do thị trường tiêu thụ tiếp tục gặp nhiều khó khăn do sản lượng xuất khẩu sụt giảm mạnh, tiêu thụ nội địa chậm…
Ngành sản xuất thuốc lá 7 tháng/2019 ước giảm 28,18% so với cùng kỳ năm trước do từ tháng 01/2019, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá nội địa tăng từ 70% lên 75% khiến giá bán thuốc lá tăng, sức mua giảm.
Sản xuất bia 7 tháng/2019 ước giảm 25,86% so với cùng kỳ do sản lượng tiêu thụ bia hơi có xu hướng giảm dần do sự tác động của các chính sách Nhà nước nhằm hạn chế bia rượu, cùng với việc vỉa hè thành phố bị thu hẹp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc kinh doanh hàng hóa trên vỉa hè. Bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng của người dân có xu hướng dịch chuyển từ sử dụng bia hơi sang sử dụng bia chai.
Ngoài ra một số ngành nữa cũng có chỉ số sản xuất giảm như  sản xuất bê tông 7 tháng/2019 giảm 30,57% so với cùng kỳ; sản xuất đồ chơi giảm mạnh, giảm 71,21% do công ty TNHH Vĩnh Chân là doanh nghiệp có khối lượng sản xuất lớn nhất chuyển đến Hải Dương…
* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2019 giảm 7,7% so với tháng trước và giảm 0,25% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn 7 tháng năm 2019 chỉ số tiêu thụ tăng 3,86% trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 16,6%; sản xuất đồ điện dân dụng tăng 29,3%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 62,9%, sản xuất môtơ, máy phát tăng 188,3% …
Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất thiết bị truyền thông giảm 35,7%; sản xuất bia giảm 25,2%; sản xuất phân bón giảm 38,3%; sản xuất săm lốp cao su giảm 9,8%;
* Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/7/2019 tăng 9,2% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ: sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 49,81%; sản xuất phân bón tăng 71,81%; sản xuất thuốc lá tăng 231,44%; sản xuất xi măng tăng 37,10%;…
Một số ngành có chỉ số tồn kho so với cùng kỳ giảm như: sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 71,81%; sản xuất trang phục giảm 36,71%; sản xuất săm lốp cao su giảm 67,32%.
* Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 31/7/2019 tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 8,4%; lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 14,4%; lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,8%.
Chia theo ngành cấp I: ngành khai khoáng tăng 1,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,5%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,6%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý nước rác thải, nước thải tăng 0,5%.
Trong 51 ngành cấp 4, một số ngành chỉ số sử dụng lao động tăng cao: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 51,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 108,6%, sản xuất trang phục tăng 14%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,4%; sản xuất thuốc hóa dược tăng 6,5%.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so cùng kỳ như: sản xuất đồ uống giảm 19,8%; sản xuất kim loại giảm 4,9%; sửa chữa máy móc giảm 6,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 37,2%.
* Một số sản phẩm công nghiệp ước 7 tháng năm 2019 so cùng kỳ: quần áo các loại đạt 85,1 triệu cái, tăng 7,31%; phân bón đạt 117,8 nghìn tấn, giảm 24,6%; màn hình khác đạt 6.366 nghìn cái, tăng 30,48%; máy giặt đạt 894,5 nghìn cái, tăng 25,6%; lốp hơi mới bằng cao su đạt 1.453,1 nghìn cái, giảm 11,46%; sắt thép các loại đạt 861 nghìn tấn, tăng 8,26%; xi măng Portland đen đạt 2.954 nghìn tấn, tăng 7,43%; điện sản xuất đạt 4.487,7 triệu Kwh, tăng 7,91%.
2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt
Vụ Đông xuân
Sản xuất lúa vụ Đông xuân 2019 có thời tiết nắng nóng kéo dài, nền nhiệt độ cao hơn trung bình mọi năm đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa từ 7 đến 10 ngày, cây lúa bị hạn chế khả năng đẻ nhánh, thời điểm lúa trỗ gặp không khí lạnh bất thường nên gây tỷ lệ hạt lép khá cao, hiện tượng bạc lá đã xuất hiện cục bộ ở một số diện tích làm ảnh hưởng đến năng suất cây lúa.
Đến nay toàn bộ diện tích lúa vụ Đông xuân trên địa bàn thành phố đã được thu hoạch xong, tổng diện tích lúa đã thu hoạch đạt 32.604 ha, bằng 95,15% so với vụ Đông xuân năm 2018; sản lượng thóc đạt 227,1 nghìn tấn, bằng 94,6%; năng suất lúa bình quân đạt 69,65 tạ/ha, bằng 99,42%, trong đó nhiều huyện có năng suất cao hơn năng suất bình quân chung của thành phố như: huyện Vĩnh Bảo đạt 70,51 tạ/ha, Tiên Lãng đạt 70,50 tạ/ha; Thủy Nguyên đạt 70,32 tạ/ha, An Dương đạt 70,0 tạ/ha…
Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm khác vụ Đông xuân năm 2019 đạt 14.911,9 ha, tăng 0,63% so với vụ Đông xuân năm 2018, hầu hết các loại cây trồng đều có năng suất tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó năng suất cây ngô đạt 52,18 tạ/ha, tăng 0,27%; cây khoai lang đạt 112,87 tạ/ha, tăng 2,21%; nhóm rau các loại đạt 232,87 tạ/ha, tăng 0,28%, trong đó một số cây trồng là lợi thế của thành phố và có giá trị kinh tế trên thị trường cho năng suất tăng cao như súp lơ đạt 205,97 tạ/ha, tăng 2,39%; bí xanh đạt 227,27 tạ/ha, tăng  1,84%…
Vụ mùa
Kết thúc thu hoạch diện tích các loại cây vụ Đông xuân bà con nông dân đã chủ động làm đất, chuẩn bị mặt ruộng nhằm đảm bảo tiến độ sản xuất vụ mùa kịp thời vụ, tránh mùa mưa bão, đến nay toàn thành phố đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu trong kế hoạch sản xuất nông nghiệp vụ mùa 2019. Ước tính diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa năm 2019 toàn thành phố đã gieo trồng 22.650 ha, trong đó: cây lúa đạt 19.500 ha, bằng 55,6% so với diện tích gieo cấy vụ mùa năm 2018; diện tích cây rau, màu gieo trồng đạt 3.150 ha (cây ngô đạt 175,8 ha; cây ớt đạt 220 ha, cây rau các loại đạt 2.050 ha, cây đậu các loại 40 ha,…).
Trên cây trồng vụ mùa, các đối tượng sinh vật gây hại mức độ thấp, cây trồng sinh trưởng, phát triển thuận lợi. Trong thời gian tới cần tập trung phấn đấu cấy hết diện tích theo kế hoạch trong khung thời vụ tốt nhất, đẩy mạnh sản xuất rau màu vụ mùa, tiếp tục công tác chỉ đạo diệt chuột, giám sát chặt chẽ rầy lưng trắng (môi giới truyền bệnh lùn sọc đen) và các đối tượng dịch hại khác để bảo vệ sản xuất.
* Chăn nuôi
Chăn nuôi lợn: Tính đến 17h ngày 25/7/2019, dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 18.899 hộ, thuộc 13 huyện, quận: Thủy Nguyên, Tiên Lãng, An Dương, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, An Lão, Cát Hải, Dương Kinh, Hải An, Kiến An, Đồ Sơn, Hồng Bàng và Lê Chân. Số lợn tiêu hủy 178.824 con (31.300 con lợn nái, 432 con lợn đực giống, 94.312 con lợn thịt, 52.780 con lợn con); trọng lượng 9.540,98 tấn. Dịch cũng đã xâm nhập vào 12 trang trại chăn nuôi có quy mô > 300 con; 376 gia trại chăn nuôi có quy mô từ 50 – 300 con; 18.511 hộ chăn nuôi có quy mô < 50 con. Tổng đàn lợn toàn thành vẫn đang trong đà giảm nhanh, giảm mạnh do ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch. Ước tính đến trung tuần tháng 7 trên địa bàn Thành phố đàn lợn hiện còn 112,17 nghìn con, giảm 73,05% so cùng kỳ năm trước. Dự báo trong thời gian tới đàn lợn sẽ tiếp tục giảm do người chăn nuôi không thể tái đàn trong thời gian dịch bệnh còn tiếp diễn, bên cạnh đó một số hộ chăn nuôi quy mô lớn (trang trại) cũng tạm thời ngừng tái đàn hoặc giảm quy mô nuôi so với trước đây.
Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn trâu, bò. Ước tháng 7/2019 đàn trâu toàn thành đạt 4.960 con, giảm 4,87% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 12.429 con, giảm 5,48% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi gia cầm hiện nay phát triển ổn định và có xu hướng tăng mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi. Tổng đàn gia cầm ước tháng 7/2019 đạt 8.145,9 nghìn con, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà đạt 6.505,6 nghìn con, tăng 6,94%.
Giá gia cầm hơi trong tháng so với tháng trước tương đối ổn định, giá lợn hơi có xu hướng tăng do khan hiếm nguồn cung trên thị trường.
2.2. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn duy trì mức ổn định. Ước tính tháng 7 năm 2019, sản lượng gỗ khai thác đạt 109 m3, giảm 16,15% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 4.103 ste, giảm 8,66%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 30 nghìn cây, giảm 3,22%. Ước tính 7 tháng/2019, sản lượng gỗ khai thác đạt 1.094 m3, giảm 18,17% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 27.125 ste, giảm 5,35%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 161 nghìn cây, giảm 3,01%.
Trong tháng mặc dù thời tiết nắng nóng gay gắt bất thường nhưng với ý thức cảnh giác cao và tích cực tuần tra bảo vệ rừng nên không có vụ cháy rừng nào xảy ra trên địa bàn thành phố.
2.3. Thủy sản
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 7/2019, ước đạt 13.033,3 tấn, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 7 tháng/2019, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 98.791,7 tấn, tăng 3,86 so với cùng kỳ năm trước.
* Nuôi trồng
Diện tích nuôi trồng thủy sản 7 tháng/2019 ước đạt 11.229,8 ha, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 7.198 ha, giảm 2,7%; tôm các loại đạt 2.608,2 ha, giảm 4,79%; thủy sản khác đạt 1.423,6 ha, tăng 8,62%.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch tháng 7/2019 ước đạt 4.935,6 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 3.630,5 tấn, tăng 3,08%; tôm các loại đạt 313,8 tấn, giảm 22,22%; thủy sản khác đạt 991,3 tấn, tăng 11,4%. Ước chung 7 tháng/2019, sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch đạt 41.092,3 tấn, tăng 2,91% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 26.320,3 tấn, tăng 2,53%; tôm các loại đạt 3.911,4 tấn, giảm 1,91%; thủy sản khác đạt 10.860,6 tấn, tăng 5,74%.
Khu vực nuôi nước ngọt thu hoạch đối tượng đạt kích cỡ xuất bán, thả bù những diện tích đã thu hoạch và chuẩn bị đầy đủ vật tư phục vụ chăm sóc đàn giống thủy sản trong điều kiện thời tiết nắng nóng, diễn biến bất thường. Khu vực nuôi nước lợ đang trong vụ thu hoạch các đối tượng nuôi chính như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, rong câu; các đối tượng khác như cua biển, cá bống bớp… vẫn được thu tỉa xuất bán. Tại các diện tích tôm nuôi nước lợ bị dịch bệnh, có nguy cơ nhiễm bệnh đã được hướng dẫn người nuôi các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định, các đầm nuôi quảng canh cải tiến thả bù con giống tôm sú, cua biển, cá vược…
Khu vực nuôi bãi triều (nhuyễn thể), nuôi lồng bè, giàn bè chủ động tu sửa cơ sở vật chất, sẵn sàng cho mùa mưa bão 2019, tích cực thu hoạch sản phẩm (cá song, cá giò, cá vược, cá hồng, hàu, ngao Bến Tre, ngao vàng…) phục vụ nhu cầu tiêu dùng của địa phương và khách du lịch.
Khu vực sản xuất giống thủy sản, các trại giống nước mặn lợ cho sinh sản tôm sú, cua biển, ngao, hàu… phục vụ nhu cầu thả bù của các người nuôi, sản lượng sản xuất trong 7 tháng/2019 ước đạt 1,5 tỷ con giống các loại, tăng 11,64% so với cùng kỳ năm trước.
* Khai thác
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 7/2019 ước đạt 8.097,7 tấn, tăng 2,74% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 4.627,8 tấn, tăng 5,94%; tôm các loại đạt 804,3 tấn, giảm 3,05%; thủy sản khác đạt 2.665,6 tấn, giảm 0,67%. Tổng sản lượng khai thác 7 tháng/2019 ước đạt 57.699,4 tấn, tăng 4,55% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: cá các loại đạt 32.997,2 tấn, tăng 9,52%; tôm các loại đạt 5.664,8 tấn, tăng 18,15%; thủy sản khác đạt 19.037,4 tấn, giảm 6,06%.
Hiện nay, đang trong kỳ chính của khai thác thủy sản, tuy nhiên tình hình thời tiết trên biển trong mùa mưa bão có nhiều diễn biến phức tạp, bên cạnh đó Bộ Nông nghiệp Trung Quốc bắt đầu đơn phương thực thi lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông trong ba tháng rưỡi cũng làm ảnh hưởng tới hoạt động khai thác thủy sản trên biển.
Các ngành, đơn vị chức năng đã khuyến cáo ngư dân bám biển sản xuất bình thường trong phạm vi vùng biển của Việt Nam, thường xuyên theo dõi chặt chẽ thông tin dự báo thời tiết trên radio hoặc Đài thông tin Duyên hải Hải Phòng và thông tin dự báo ngư trường (lưu ý các đợt biển động do áp thấp nhiệt đới, mưa, bão, mù trời …) để ngư dân tiếp cận có kế hoạch sản xuất đảm bảo quy định của Nhà nước về chống đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định (IUU), đặc biệt là đối với các tàu cá hoạt động ở vùng lộng Vịnh Bắc Bộ, vùng khơi phía đảo Bạch Long Vỹ và Vùng đánh cá chung Việt Nam – Trung Quốc.
3. Đầu tư xây dựng
Dự tính vốn đầu tư thực hiện tháng 7/2019 là 860,3 tỷ đồng, giảm 1,76% so cùng kỳ. Chia ra:
– Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 676,3 tỷ đồng, giảm so với cùng kỳ 12,86%;
– Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 148,8 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 103,4%;
– Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 35,2 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 33,08%;
Dự tính vốn đầu tư thực hiện 7 tháng/2019 là 4.118,4 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ. Chia ra:
– Vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố ước 3.385,4 tỷ đồng, giảm so với cùng kỳ 4,47%;
– Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước 578 tỷ đồng, tăng so cùng kỳ 77,57%;
– Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước 155 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 41,14%.
Hiện nay, thành phố đang tập trung cao nguồn lực cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, ngoài một số dự án đảm bảo về tiến độ còn những dự án chậm tiến độ nhất là công tác giải phóng mặt bằng. Năm 2019 thành phố bố trí hơn 9 nghìn tỷ đồng cho các dự án của thành phố từ cấp thành phố đến cấp xã. Trong đó ngoài nguồn vốn cân đối ngân sách, thành phố còn huy động thêm nguồn vốn vay tồn ngân kho bạc và vốn vay lại ODA. Đến thời điểm hiện tại các dự án được bố trí nguồn vốn vay  tồn ngân kho bạc và vay lại ODA của chính phủ mới được giải ngân 56,9 tỷ đồng (dự án nghiên cứu cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường JICA). Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ thực hiện của các dự án trong thời gian qua.
Đóng góp hơn 80% vào tổng vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp thành phố, dự kiến tháng 7/2019 nguồn vốn này giảm dần (giảm 12,86% so với cùng kỳ), nguyên nhân là do nguồn vốn trung ương hỗ trợ có mục tiêu và nguồn vốn ODA trong tháng 6 và tháng 7 tiếp tục giảm. Ước 7 tháng/2019 nguồn vốn ODA giảm 64,63% so với cùng kỳ.
* Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tính đến 15/7/2019 Hải Phòng có 664 dự án còn hiệu lực:
Tổng vốn đầu tư     :    17.441,42 triệu USD
Vốn điều lệ            :           6.038,42 triệu USD
Vốn Việt Nam góp :             241,24 triệu USD
Nước ngoài góp      :           5.797,18 triệu USD
Tính từ đầu năm đến 15/7/2019 toàn thành phố có 52 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư 412,71 triệu USD và 27 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 155,62 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Từ nửa cuối tháng 6 đến 15/7/2019 có 9 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 56,39 triệu USD. Điều chỉnh tăng vốn có 6 dự án với số vốn tăng là 21,63 triệu USD. Đối với dự án cấp mới và điều chỉnh tăng vốn đa số chủ yếu là các dự án nhỏ, vốn đăng ký và điều chỉnh không lớn.
Có 11 dự án thu hồi/chấm dứt hoạt động trong đó 5 dự án do hết thời hạn dự án, 1 dự án thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do vi phạm pháp luật về đầu tư, 5 dự án nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động dự án trước thời hạn.
4. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 năm 2019 ước đạt 11.506,92 tỷ đồng, tăng 1,78% so với tháng trước và tăng 15,54% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 7 tháng/2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 76.417,01 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo khu vực kinh tế
– Khu vực kinh tế nhà nước tháng 7/2019 ước đạt 289,45 tỷ đồng, tăng 1,40% so với tháng trước, tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt 1.881,41 tỷ đồng, giảm 0,42% so với cùng kỳ năm trước;
– Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tháng 7/2019 ước đạt 10.652,18 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 15,97% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt 70.893,72 tỷ đồng, tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước;
– Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tháng 7/2019 ước đạt 565,29 tỷ đồng, tăng 0,65% so với tháng trước, tăng 15,19% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt 3.641,88 tỷ đồng, tăng 14,70% so với cùng kỳ năm trước.
* Chia theo ngành hoạt động

Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ

 

 Ước tháng 7/2019(Triệu đồng)

 Cộng dồn 7 tháng 2019(Triệu đồng)

Ước tháng 7/2019 so với tháng trước (%)

Ước tháng 7/2019 so với tháng cùng kỳ năm trước(%)

Cộng dồn 7 tháng 2019 so với cùng kỳ năm trước(%)

Tổng số

11.506,92

76.417,01

101,78

115,54

114,91

Bán lẻ hàng hóa

8.469,54

58.536,39

101,24

115,26

114,79

Dịch vụ lưu trú

195,09

1.040,47

104,75

117,67

116,55

Dịch vụ ăn uống

1.776,16

10.318,42

103,24

121,17

116,74

Du lịch lữ hành

21,55

122,34

102,25

102,17

104,39

Dịch vụ khác

1.044,58

6.399,39

103,22

109,00

113,10

– Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 7 năm 2019 ước đạt 8.469,54 tỷ đồng, tăng 1,24% so với tháng trước, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 7 vẫn đang là thời điểm mùa du lịch biển, lượng khách tham quan du lịch đông nên kéo theo tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng. Hầu hết các ngành hàng đều ước tính doanh thu tháng 7 tăng hơn so với tháng trước như ngành hàng lương thực thực phẩm tăng 0,45%; hàng may mặc tăng 1,02%; đồ dùng, trang thiết bị gia đình tăng 2,37%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 0,72%; phương tiện đi lại tăng 0,76%, xăng dầu các loại tăng 1,15%… Riêng ngành hàng nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) ước tính doanh thu trong tháng 7 giảm 1,19% so với tháng trước do giá gas trong nước tiếp tục được điều chỉnh giảm 19.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới.
Nhu cầu về các vật liệu cho xây dựng tiếp tục tăng do nhu cầu xây dựng ngày càng cao, kéo theo đó doanh thu của ngành hàng gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 0,72% so với tháng trước. Do thời tiết nắng nóng làm tăng nhu cầu tiêu dùng các thiết bị làm mát nên doanh thu của nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình ước tính tăng 2,37% chủ yếu ở mặt hàng đồ điện như quạt điện, máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh… Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 02/7 và dự kiến tiếp tục tăng vào ngày 17/7, đây là mặt hàng thiết yếu được tiêu dùng hàng ngày nên doanh thu ngành hàng xăng dầu tháng này ước tính tăng 1,15% so với tháng trước.
Cộng dồn 7 tháng/2019, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 58.536,39 tỷ đồng, chiếm 76,6% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 14,79% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng khá cao so với cùng kỳ là nhóm ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 13,61%; hàng may mặc tăng 14,15%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 14,65%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 16,28%; xăng dầu các loại tăng 16,37%; nhiên liệu khác tăng 16,04%; ô tô các loại tăng 14,84%…
– Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 7 năm 2019 ước đạt 195,09 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt 1.040,5 tỷ đồng, tăng 16,55% so với cùng kỳ năm trước.
– Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 7 năm 2019 ước đạt 1.776,16 tỷ đồng, tăng 3,24% so với tháng trước và tăng 21,17% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt 10.318,42 tỷ đồng, tăng 16,74% so với cùng kỳ năm trước.
– Doanh thu du lịch lữ hành tháng 7 năm 2019 ước đạt 21,55 tỷ đồng, tăng 2,25% so với tháng trước, tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt 122,34 tỷ đồng, tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 7, thời tiết nắng nóng kéo dài đồng thời là thời điểm học sinh vẫn đang được nghỉ hè nên nhu cầu du lịch biển của người dân tăng cao.
– Doanh thu dịch vụ khác tháng 7 năm 2019 ước đạt 1.044,58 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước, tăng 9,00% so với cùng kỳ năm trước; 7 tháng/2019 ước đạt gần 6.399,39 tỷ đồng, tăng 13,10% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 7/2019, các hoạt động dịch vụ đều có xu hướng tăng hơn so với tháng trước, trong đó: dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 4,07%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,87%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 7,16%. Thời tiết trong tháng 7 nắng nóng gay gắt tiếp tục kéo dài nên nhu cầu về lắp đặt, sửa chữa các thiết bị làm mát tăng cao đột biến; các dịch vụ sửa chữa, lắp đặt điều hòa luôn trong tình trạng quá tải nên dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 6,82%.
5. Hoạt động lưu trú và lữ hành  
Tổng lượt khách tháng 7/2019 do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 964 nghìn lượt, tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 20,03% so với cùng tháng năm 2018; trong đó khách quốc tế đạt 92,4 nghìn lượt, tăng 3,91% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng tháng năm trước.
Cộng dồn 7 tháng/2019, tổng lượt khách do các cơ sở lưu trú và lữ hành thành phố phục vụ ước đạt 4.950,8 nghìn lượt, tăng 13,50% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó khách quốc tế đạt 544,6 nghìn lượt, tăng 12,55% so với cùng kỳ năm trước.
Đối với hoạt động lữ hành, lượt khách lữ hành tháng 7 năm 2019 đạt 11,1 nghìn lượt, tăng 3,08% so với tháng trước. Cộng dồn 7 tháng/2019, lượt khách du lịch đạt 66,5 nghìn lượt, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 7/2019, các doanh nghiệp hoạt động ngành du lịch tiếp tục đưa ra nhiều chùm tour du lịch phong phú, đa dạng, giá cả hợp lý, kèm theo những khuyến mại hấp dẫn, đồng thời tháng này học sinh vẫn đang trong kỳ nghỉ hè nên nhu cầu du lịch của người dân tiếp tục tăng cao.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
6.1. Vận tải hàng hoá

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 7 năm 2019 ước đạt 17,03 triệu tấn, tăng 1% so với tháng trước và tăng 17,41% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 7 tháng năm 2019 đạt 114,3 triệu tấn, tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển tháng 7 năm 2019 ước đạt 7.951,9 triệu tấn.km, tăng 1,09% so với tháng trước và giảm 2,61% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 7 tháng năm 2019 đạt 55.104,7 triệu tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 7/2019 tăng so với tháng trước do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng hơn.
6.2. Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 7 năm 2019 ước đạt 6,05 triệu lượt, giảm 1,07% so với tháng trước, tăng 15,09% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 7 tháng/2019 đạt 40,5 triệu lượt, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách luân chuyển tháng 7 năm 2019 đạt 234,8 triệu Hk.km, giảm 0,03% so với tháng trước và tăng 10,39% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 7 tháng/2019 đạt 1.609,9 triệu lượt, tăng 14,65% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển tháng 7/2019 giảm so với tháng trước, nguyên nhân tháng 6 là tháng cao điểm nhất trong mùa du lịch biển của Hải Phòng nên lượng khách đi tàu sang tháng 7 giảm đi so với tháng 6.
6.3. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu dịch vụ kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7 năm 2019 ước đạt 2.528,7 tỷ đồng, tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 17,39% so với cùng tháng năm trước. Ước tính 7 tháng/2019 doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 17.224,2 tỷ đồng, tăng 16,26% so với cùng kỳ năm trước.
6.4. Sân bay Cát Bi
Tháng 7 năm 2019 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 28,5 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước; tăng 17,61% so với cùng tháng năm 2018; 7 tháng/2019 tổng doanh thu của Sân bay Cát Bi ước đạt 173,7 tỷ đồng, tăng 26,52% so với cùng kỳ năm trước.
Số lần máy bay hạ, cất cánh tháng 7 năm 2019 ước đạt 1.550 chuyến, tăng 0,13% so với tháng 6/2019, tăng 24,60% so với cùng tháng năm 2018; 7 tháng/2019 số lần máy bay hạ, cất cánh đạt 9.700 chuyến, tăng 14,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chuyến bay ngoài nước tháng 7/2019 ước đạt 110 chuyến, với ước tính trên 17 nghìn lượt hành khách thông qua.
Tổng số hành khách tháng 7 năm 2019 ước đạt 260,5 nghìn lượt người, tăng 0,45% so với tháng 6 năm 2019, tăng 18,75% so với cùng tháng năm 2018; 7 tháng/2019 tổng số hành khách ước đạt 1.540,8 nghìn lượt, tăng 10,37% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số hàng hóa tháng 7 năm 2019 ước đạt 1,6 ngàn tấn, tăng 0,82% so với tháng 06 năm 2019, tăng 20,57% so với cùng tháng năm 2018; 7 tháng/2019 tổng số hàng hóa thông qua đạt 11,3 nghìn tấn, tăng 25,65% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa đến và đi hiện nay đa dạng nhiều chủng loại như hải sản, hàng thực phẩm, bánh kẹo, quần áo và hàng tiêu dùng khác.
Hiện nay đã có 5 hãng mở tới sân bay Cát Bi với 12 đường bay, trong đó có 3 đường bay quốc tế đi Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc.
7. Hàng hoá thông qua cảng 
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng tháng 7 năm 2019 ước đạt 10.972,1 nghìn TTQ, tăng 1,03% so với tháng trước và tăng 22,35% so với cùng kỳ năm trước.
– Khối cảng thuộc kinh tế Nhà nước ước đạt 3.388,4 nghìn TTQ, giảm 2,26% so với tháng trước, tăng 10,06% so với cùng kỳ, trong đó:
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước Trung ương ước đạt 3.380,4 nghìn TTQ, giảm 2,13% so với tháng trước, tăng 10,07% so với cùng kỳ.
+ Cảng thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 8 nghìn TTQ, giảm 37,94% so với tháng trước, tăng 3,73% so với cùng kỳ.
– Các cảng thuộc khu vực kinh tế ngoài Nhà nước ước đạt 7.583,7 nghìn TTQ, tăng 2,57% so với tháng trước và tăng 28,78% so với cùng kỳ năm 2018.
Cộng dồn 7 tháng đầu năm 2019 sản lượng hàng hóa thông qua cảng trên địa bàn thành phố đạt 67.875,7 nghìn TTQ, tăng 12,22% so với cùng kỳ năm 2018.
* Doanh thu cảng biển tháng 7 năm 2019 của khối cảng trên địa bàn thành phố ước đạt 460,9 tỷ đồng, tăng 3,35% so với cùng kỳ.
Cảng HICT đã khai thác thêm được một tuyến nội Á mới, tuyến này có hành trình Hải Phòng – Trung Quốc – Hải Phòng – Hồ Chí Minh – Ả Rập, làm hàng với tần suất 1 đến 2 chuyến/tuần, trọng tải 17.860 GRT.
8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thành phố Hải Phòng tháng 7 năm 2019 tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 2,20% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,59% so với tháng 12/2018. CPI bình quân 7 tháng đầu năm 2019 tăng 2,36% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 9 nhóm có chỉ số giá tháng 7/2019 tăng so với tháng trước với mức tăng như sau: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,79%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,32%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,45%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; nhóm giáo dục tăng 0,62%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,43% và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,69%. 02 nhóm còn lại có chỉ số giá giảm là nhóm giao thông giảm 0,30%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%.
Nguyên nhân chính làm tăng CPI tháng 7/2019 là do giá thực phẩm tăng 0,96% làm cho CPI chung tăng 0,22%; giá điện sinh hoạt tăng 5,54% làm cho CPI chung tăng 0,11%, giá dịch vụ giáo dục tăng 0,60% làm cho CPI chung tăng 0,04%… Bên cạnh đó cũng có yếu tố làm giảm CPI tháng 7 là giá gas được điều chỉnh giảm 5,52% làm cho CPI chung giảm 0,06%.
Chỉ số giá thực phẩm tăng 0,96% so với tháng trước, trong đó giá thịt lợn tăng 4,19% kéo theo giá nội tạng động vật tăng 1,31% do thời gian qua lợn bị lây lan dịch bệnh phải tiêu hủy nhiều khiến nguồn cung khan hiếm đã đẩy giá lợn hơi tăng mạnh.
Chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,45%, trong đó nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,33%. Giá vật liệu xây dựng tăng cao do nhu cầu xây dựng tăng và giá điện đầu vào để sản xuất tăng.
Chỉ số nhóm giao thông giảm 0,30% so với tháng trước chủ yếu do giá xe máy giảm 1,12%. Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng 02 lần trong tháng vào các ngày 02/7 và 17/7/2017 với tổng mức tăng giá cụ thể là xăng RON95-IV tăng 1.100 đồng/lít, xăng E5-RON 92 tăng 1.040 đồng/lít; dầu diesel 0,05S-II tăng 340 đồng/lít.
* Chỉ số giá vàng 99,99% và Đô la Mỹ:
– Chỉ số giá vàng tháng 7/2019 tăng 5,20% so với tháng trước, tăng 9,39% so với cùng tháng năm 2018, tăng 10,57% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân tháng 7/2019 dao động ở mức 3,924 triệu đồng/chỉ, tăng 194.000 đồng/chỉ.
– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2019 giảm 0,52% so với tháng trước, tăng 1,14% so với cùng tháng năm 2018, giảm 0,20% so với tháng 12 năm trước. Tỷ giá USD/VND bình quân tháng 7/2019 dao động ở mức 23.309 đồng/USD, giảm 120 đồng/USD.
9. Hoạt động tài chính, ngân hàng
9.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 7 năm 2019 ước đạt 6.965,6 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa đạt 2.302 tỷ đồng; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.500 tỷ đồng. Ước 7 tháng/2019 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 50.634,8 tỷ đồng, tăng 36,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 14.549,2 tỷ đồng, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 35.001 tỷ đồng, tăng 48,9% so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính 7 tháng/2019, trong số thu nội địa: thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 1.569,6 tỷ đồng, giảm 7% so cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.966,5 tỷ đồng, tăng 57,1% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 2.771,3 tỷ đồng, tăng 16% so cùng kỳ năm trước…
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 7 năm 2019 ước đạt 2.248,2 tỷ đồng; ước 7 tháng/2019 đạt 11.067,8 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi đầu tư phát triển trong chi cân đối ngân sách địa phương đạt 4.634,2 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước, chi thường xuyên đạt 5.742,3 tỷ đồng, tăng 8,5% so cùng kỳ năm trước.
9.2. Ngân hàng
* Công tác huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến hết tháng 7 năm 2019 đạt 197.826 tỷ đồng, tăng 11,05% so với cùng kỳ năm trước, tăng 7,35% so với cuối năm 2018.
Theo loại tiền: huy động bằng VND ước đạt 187.630 tỷ đồng, tăng 11,33% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 94,85%; ngoại tệ ước đạt 10.196 tỷ đồng, tăng 6,05% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 5,15%.
Theo hình thức huy động: huy động tiền gửi tiết kiệm ước đạt 139.199 tỷ đồng, tăng 11,97% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 70,36%; tiền gửi thanh toán ước đạt 54.997 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 27,8%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 3.630 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,84%.
* Công tác tín dụng:
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế ước thực hiện đến hết tháng 7 năm 2019 đạt 122.276 tỷ đồng, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm trước, tăng 8,66% so với năm 2018.
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: Cho vay bằng VND đạt 114.475 tỷ đồng, tăng 14,73% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 93,62%; cho vay ngoại tệ (quy đổi VND) ước đạt 7.801 tỷ đồng, tăng 1,62% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 6,38%.
Cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn ước đạt 53.679 tỷ đồng, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 43,90%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 68.597 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 56,1%.
II. VĂN HÓA – XÃ HỘI
1. Giải quyết việc làm, an sinh xã hội

* Công tác Lao động, việc làm
Tháng 7 năm 2019, thành phố đã tổ chức 03 phiên giao dịch việc làm, với sự tham gia tuyển dụng của 101 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng là 6.804 lượt lao động; ước cấp mới 100 giấy phép lao động, cấp lại 80 giấy phép lao động, miễn cấp 15 giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, sàn giao dịch việc làm thành phố tổ chức được 23 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia tuyển dụng của 704 lượt doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng là 33.608 lượt lao động. Cung lao động tại sàn đạt 49.029 lượt người, gấp trên 1,46 lần nhu cầu tuyển dụng.
Số lượng đăng ký bảo hiểm thất nghiệp trong 7 tháng đầu năm là 8.984 người (giảm 4,4% so với cùng kỳ), thành phố đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 8.871 người, với kinh phí 164,19 tỷ đồng (tăng 29,81% so với cùng kỳ), tiến hành hướng dẫn, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể và ra thông báo thực hiện nội quy lao động cho 79 doanh nghiệp (bằng 105% so với cùng kỳ); hướng dẫn, thẩm định và ra thông báo thực hiện nội quy lao động cho 68 doanh nghiệp (bằng 106% so với cùng kỳ). Nhìn chung, sàn giao dịch việc làm và hệ thống thông tin điện tử về thị trường lao động của thành phố hoạt động hiệu quả, tiếp tục phát huy vai trò kết nối cung – cầu lao động trên thị trường, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm có xu hướng được cải thiện.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 04 cuộc đình công với 1.347 người tham gia (tăng 01 cuộc và giảm 2.530 lao động so với cùng kỳ); xảy ra 08 vụ tai nạn làm chết 08 người (giảm 01 vụ và 01 người chết so với cùng kỳ).
* Công tác dạy nghề
Tháng 7 năm 2019, thành phố tiếp tục tiếp nhận, tổng hợp và thẩm định hồ sơ đề nghị hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2019; hoàn thiện báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo chính sách tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn trường Cao đẳng Công nghiệp Hải Phòng, trường Cao đẳng Lao động – Xã hội Hải Phòng triển khai Dự án đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề cho người khuyết tật.
Tính đến nay, tổng số cơ sở giáo dục nghề nghiệp và có hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố là 70 đơn vị (gồm 59 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 11 cơ sở có hoạt động giáo dục nghề nghiệp). Công tác tuyển sinh đào tạo nghề nghiệp trên toàn thành phố ước đạt 24.300 học sinh, sinh viên, người lao động, đạt 47,4% kế hoạch năm và bằng 100% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, trình độ cao đẳng, trung cấp đạt khoảng 1.650 học sinh, sinh viên (chiếm 6,8% tổng số tuyển sinh, bằng 105% so với cùng kỳ).
* Công tác người có công
Tính đến tháng 7 năm 2019, thành phố đã tiếp nhận và tiến hành giải quyết theo đúng chế độ cho các đối tượng chính sách trên địa bàn như sau: Quyết định trợ cấp mai táng phí và trợ cấp 1 lần cho 1.641 trường hợp; trợ cấp hàng tháng 64 người; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ: 398 người; xác nhận miễn giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định 118/QĐ-TTg 36 trường hợp; quyết định về việc thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục và đào tạo đối với người có công và con của họ 07 đối tượng; cấp sổ theo dõi việc cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công 03 đối tượng; quyết định điều dưỡng phục hồi sức khỏe đối với 12.608 người có công và thân nhân liệt sĩ; tiếp nhận, thẩm định để thực hiện chính sách và phục vụ công tác quản lý đối với 641 trường hợp; công nhận, đề nghị công nhận 301 người có công.
Bên cạnh đó, thành phố đã tiến hành thẩm định, xác nhận hộ gia đình người có công trong việc đề nghị hỗ trợ vật liệu xây mới, sửa chữa nhà ở theo Nghị quyết số 32/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố, tính đến nay đã thực hiện thẩm định đối với 3.174 trường hợp, trên cơ sở đó đưa ra quyết định phù hợp theo đúng tiêu chuẩn, điều kiện quy định.
* Công tác giảm nghèo – Bảo trợ xã hội
Trong 7 tháng đầu năm 2019, thành phố đã tiếp nhận 24 đối tượng đưa vào điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, tập trung được 389 lượt người người lang thang trên địa bàn (giảm 109 lượt người, tương ứng giảm 21,89% so với cùng kỳ). Bên cạnh đó, thành phố đã thực hiện chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng và các chế độ hỗ trợ kinh phí đối với 74.825 người (tương ứng tăng 3,7% so với cùng kỳ) đảm bảo kịp thời, đầy đủ và đúng chế độ chính sách.
Bên cạnh đó, thành phố đã tiến hành thẩm định và công nhận cho 05 cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật; hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị quyết hỗ trợ giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố giai đoạn 2019-2025.
* Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
Tính từ đầu năm 2019 đến nay, thành phố đã tổ chức quản lý, cai nghiện ma túy tập trung tại các cơ sở cai nghiện cho 2.286 lượt người (bằng 104,52% so với cùng kỳ, bằng 84,67% so với kế hoạch năm 2019), cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 214 người (bằng 92,24% so với cùng kỳ, bằng 69,03% so với kế hoạch năm 2019). Phối hợp với công an quận, huyện tăng cường chỉ đạo các đoàn kiểm tra liên ngành, kết quả đã tiến hành kiểm tra 217 buổi tại 842 cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke…, trên cơ sở đó đã lập biên bản chuyển thanh tra chuyên ngành xử phạt 09 cơ sở vi phạm hành chính về lĩnh vực lao động và lĩnh vực văn hóa với số tiền là 17,5 triệu đồng.
2. Giáo dục – Đào tạo
Phối hợp tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2019 đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, hiện nay đang thực hiện việc chấm phúc khảo theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Tổ chức tốt kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT học 2019 – 2020 theo đúng quy định, hiện đã công bố điểm chuẩn và chỉ tiêu xét tuyển vào các đơn vị giáo dục.
Các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở tổ chức tuyển sinh năm học 2019-2020 các lớp đầu cấp; các đơn vị đang hoàn thành báo cáo tổng kết, số liệu thống kê cuối năm học 2018 – 2019 về Sở Giáo dục và đào tạo đúng thời hạn và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Tại kỳ thi Olympic toán quốc tế 2019 lần thứ 60 diễn ra tại Anh từ ngày 15 đến ngày 22/7, Hải Phòng có 01 học sinh tham dự và đoạt huy chương vàng.
3. Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm 
* Công tác y tế dự phòng
Tháng 7/2019, ngành Y tế chỉ đạo các đơn vị trên địa bàn thành phố chủ động, đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm mùa hè; tích cực giám sát tại các cơ sở y tế, thực hiện giám sát 15 lượt tại các bệnh viện tuyến thành phố; theo dõi các bệnh sốt phát ban nghi sởi/rubella, viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết…Tăng cường việc phối hợp chặt chẽ giữa Sở Y tế với Chi cục Thú y – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phát hiện sớm dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, đặc biệt chú trọng tuyên truyền sâu rộng, khuyến cáo các biện pháp phòng chống dịch tả lợn Châu Phi, bệnh sán lợn để chủ động phòng ngừa, xử lý dịch.
Trong 7 tháng đầu năm 2019, thành phố tích cực chỉ đạo, tổ chức tập huấn, khám sàng lọc, xử trí phản ứng sau tiêm phòng vắc xin ComBE Five nhằm đảm bảo an toàn trong tiêm chủng hàng tháng. Kết quả triển khai vắc xin ComBE Five như sau: tiêm được 5.211 trẻ, có 765 trường hợp có phản ứng sau tiêm (chiếm tỷ lệ 14,68%), 26 trẻ có phản ứng sốt cao >39 độ (chiếm 0,49%), 06 trẻ có phản ứng nặng (chiếm 0,11%), các trường hợp này đều đã được theo dõi và xử lý ổn định.
Công tác khám chữa bệnh được chú trọng, thực hiện khám chữa bệnh thông thường gắn với phát triển kỹ thuật y tế cao, chuyên sâu tại các bệnh viện tuyến thành phố, đẩy mạnh giám sát chất lượng khám chữa bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, kiểm soát kê đơn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.
* Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong tháng 7 năm 2019, Sở Y tế đã chỉ đạo Chi cục Vệ sinh An toàn thực phẩm và các trung tâm y tế quận/huyện bảo đảm an toàn thực phẩm, đặc biệt tập trung cho các Hội nghị, sự kiện chính trị của thành phố như: Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2019-2024, Hội nghị phát triển dịch vụ Logistics tại Hải Phòng ngày 12/7/2019; Kỳ họp thứ 10 Hội đồng nhân dân thành phố khóa XV…
Các Đoàn kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm của thành phố tích cực tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định trong đảm bảo an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn. Trên cơ sở đó, thành phố đã thẩm định, đánh giá và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho 43 cơ sở. Nhìn chung, công tác an toàn thực phẩm được bảo đảm, không để xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng nào trên địa bàn.
Bên cạnh đó, toàn ngành Y tế trên toàn thành phố tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả, đúng lộ trình Nghị quyết 17 của HĐND thành phố về “Nhiệm vụ, giải pháp tăng cường công tác đảm bảo an toàn thực phẩm giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030”.
* Công tác phòng chống HIV/AIDS
Tính đến tháng 7/2019, lũy tích người nhiễm HIV là 12.405 người, số người chuyển sang AIDS là 6.297 người, số người chết do AIDS là 4.563 người, và số người nhiễm HIV hiện còn sống là 7.842 người. So với cùng kỳ năm 2018, số người nhiễm HIV giảm 25 trường hợp và số người chuyển sang AIDS giảm 07 trường hợp.
Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS, hướng tới thực hiện Kế hoạch 90-90-90 và chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 theo đúng cam kết, lộ trình đã đề ra.
4. Văn hóa – Thể thao
* Công tác văn hóa
Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa nghệ thuật, tăng cường công tác quản lý các hoạt động văn hóa, văn nghệ, kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố.
Thành phố đẩy mạnh chỉ đạo các đơn vị chức năng tổ chức thành công và đa dạng hóa các chương trình biểu diễn nghệ thuật cuối tuần tại Nhà Kèn – Vườn hoa Nguyễn Du; xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9. Tích cực triển khai thực hiện các dự án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Nghị quyết số 22/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về Đề án công trợ kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, văn hóa xếp hạng cấp thành phố giai đoạn 2018 – 2025.
Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục chú trọng thực hiện hiệu quả công tác phối hợp thẩm định các chương trình biểu diễn nghệ thuật, thẩm định văn hóa phẩm xuất, nhập khẩu không nhằm mục đích kinh doanh, quản lý lễ hội, quản lý di sản và di tích trên địa bàn.
* Công tác thể thao
Tiến hành tổ chức tốt Giải bóng đá Hoa Phượng – Cúp Báo Hải Phòng năm 2019 dành cho thiếu niên, nhi đồng, đây là giải đấu thường niên được diễn ra vào dịp hè, là hoạt động thiết thực góp phần để các em “Vui hè an toàn – Học ngàn điều hay”; đăng cai tổ chức giải Vô địch Wushu trẻ toàn quốc năm 2019, giải đấu được diễn ra từ ngày 17/7 đến 26/7, đây là cơ hội để các huấn luyện viên, vận động viên, những người làm công tác thể thao ở các tỉnh, thành phố được gặp gỡ, giao lưu và thi đấu, học hỏi kinh nghiệm.
Tính đến ngày 15/7/2019, Đoàn vận động viên thể thao thành tích cao thành phố Hải Phòng đã tham gia thi đấu 55 giải thể thao quốc gia, quốc tế và khu vực, giành tổng số 184 huy chương các loại.
5. Tình hình trật tự an toàn giao thông
Từ ngày 15/6/2019 đến ngày 14/7/2019, toàn thành phố xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 04 người chết và 06 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tai nạn giao thông giảm 02 vụ, số người chết giảm 05 người và số người bị thương tăng 02 người. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa chấp hành đúng luật hoặc không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn cá nhân khi tham gia giao thông, nhìn chung không có tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.
Cộng dồn từ đầu năm 2019 đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, trong đó đường bộ 53 vụ, đường thủy 01 vụ. Các vụ tai nạn giao thông làm chết 42 người và bị thương 19 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 04 vụ (tương ứng giảm 6,90%), số người chết giảm 06 người (tương ứng giảm 12,50%) và số người bị thương giảm 08 người (tương ứng giảm 29,63%).
6. Công tác phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/6/2019 đến ngày 14/7/2019, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xảy ra 05 vụ cháy, làm 01 người bị thương, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính là 32 triệu đồng.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 53 vụ cháy, bằng 74,65% so với cùng kỳ năm 2018, làm 01 người chết, 05 người bị thương và giá trị thiệt hại về tài sản ước tính là 120.953 triệu đồng. Nhìn chung, công tác phòng cháy, chữa cháy đảm bảo an toàn, công tác cứu hộ, cứu nạn nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả. Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục chú trọng tăng cường phối hợp liên ngành kiểm tra công tác phòng chống cháy nổ tại các địa bàn, cơ sở trọng điểm, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hải Phòng

thongkehaiphong.gov.vn